Saturday, 06/03/2021 - 02:05|
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG HÀ
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Luyện đề số 1 - Ngữ văn 9

ĐỀ SỐ 1

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

                                             … Xót người tựa cửa hôm mai
                                      Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
                                                       Sân Lai cách mấy nắng mưa
                                      Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

          (Theo SGK Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam)

Thực hiện những yêu cầu sau:

Câu 1: (0,5 điểm) Đoạn trích trên trích trong tác phẩm nào? Ai là tác giả ?

Câu 2: (0,5 điểm) Hãy xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích. Đoạn trích sử dụng hình thức ngôn ngữ nào?

Câu 3: (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về thành ngữ “Quạt nồng ấp lạnh” trong đoạn trích?

Câu 4: (1,0 điểm) Khái quát nội dung của đoạn trích.

Câu 5: (1,0 điểm) Đoạn trích gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm của con cái dành cho cha mẹ?

PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về hậu quả của việc không nghiêm khắc với bản thân.

Câu 2: (4,0 điểm)

Hãy nêu suy nghĩ của em về nhân vật ông Sáu qua đoạn trích sau:

Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Ðang ngồi làm việc dưới tấm ny lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà.

Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỷ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sóng lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám, năm đó ta chưa võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mỹ - ngụy, anh Sáu bị hy sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mỹ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.

- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.

Tôi cúi xuống nhìn anh và khẽ nói. Ðến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.

(Trích: Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng,

SGK Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam).

 

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Câu 1

- Tác phẩm:  Truyện Kiều. (tránh nhầm lẫn với tên gọi đoạn trích).

- Tác giả: Nguyễn Du.

Nhận diện chính xác được tác phẩm và tác giả. (Lưu ý: cách viết nhan đề tác phẩm, cách viết danh từ riêng)

Khi đề bài chỉ yêu cầu nhận diện tác phẩm: ghi tên tác phẩm nên ghi thêm thông tin tác giả.

Câu 2:

- Hình thức ngôn ngữ: độc thoại nội tâm.

Trong văn bản tự sự, đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm là những hình thức quan trọng để thể hiện nhân vật.

+ Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai hoặc nhiều người. Trong văn tự sự, đối thoại được thể hiện bằng các gạch đầu dòng ở đầu lời trao và lời đáp (mỗi lượt câu là một gạch đầu dòng).

+ Độc thoại là lời của một người nào đó nói với chính mình hoặc nói với một ai đó trong tưởng tượng. Trong văn bản tự sự, khi người độc thoại nói thành lời thì phía trước câu hỏi có gạch đầu dòng; còn khi không nói thành lời thì không có gạch đầu dòng. Trường hợp không có gạch đầu dòng trước lời nói gọi là độc thoại nội tâm.

Câu 3:

- Ý nghĩa của thành ngữ: Quạt nồng ấp lạnh 

(thành ngữ này đã được giải thích trong SGK)

+ Mùa hè, trời nóng lực thì quạt cho cha mẹ ngủ; mùa đông, trời lạnh giá thì vào nằm trước trong giường (ấp chiếu chăn) để khi cha mẹ ngủ, chỗ nằm đã ấm sẵn.

(Vì đề yêu cầu nêu ý nghĩa của thành ngữ trong đoạn trích nên các em cần đặt trong mối liên hệ với các câu thơ)

+ Chỉ sự lo lắng của Kiều, hiện tại nàng không ở bên cha mẹ thì ai sẽ là người phụng dưỡng, chăm sóc cho họ.

Câu 4:

(cách trả lời dạng câu hỏi này cô đã hướng dẫn trong đề trước, qua việc học văn bản các em có thể trả lời được)

Đoạn trích thể hiện nỗi nhớ cha mẹ của Thuý Kiều. Nhớ tới cha mẹ nàng lo lắng, day dứt khi không thể chăm sóc cho cha mẹ lúc tuổi già sức yếu. Qua đó đã bộc lộ lòng hiếu thảo, vị tha của Kiều.

Câu 5:

          Dạng câu hỏi này cần lưu ý:

- Đảm bảo dung lượng mà đề bài yêu cầu. Trả lời đúng trọng tâm câu hỏi.

- Nội dung câu trả lời không phải là nội dung của đoạn thơ.

- Bày tỏ suy nghĩ của bản thân một cách chân thành, có nhiều cách diễn đạt ý, ý đúng với chuẩn mực đạo đức.

Công lao sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái là vô cùng to lớn. Vì vậy, con cái cần yêu thương, kính trọng mình cha mẹ mình. Khi còn nhỏ, phải biết vâng lời, chăm chỉ học tập, rèn luyện; trở thành con ngoan trò giỏi là món quà to lớn dành cho cha mẹ của mình. Khi con cái dần trưởng thành cũng là lúc cha mẹ ngày càng già yếu đi, đây chính là lúc những người làm con cần làm tròn chữ hiếu: phải phụng dưỡng, chăm sóc chu đáo cho cha mẹ của mình. Có như vậy mới xứng đạo làm con.

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

                                      … Xót người tựa cửa hôm mai
                                         Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
                                                           Sân Lai cách mấy nắng mưa
                                         Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

                   (Trích: Cảnh ngày xuân” – Truyện Kiều” – Nguyễn Du

 Theo SGK Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam)

Thực hiện những yêu cầu sau:

Câu 1: (0,5 điểm) Nêu vị trí của đoạn trích Cảnh ngày xuân trong tác phẩm.

Câu 2: (0,5 điểm) Hãy xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 3: (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về những từ “Sân Lai” và “gốc tử” trong hai câu sau?

                                      Sân Lai cách mấy nắng mưa
                                           Có khi gốc tử đã vừa người ôm …

Câu 4: (1,0 điểm) Em cảm nhận được những vẻ đẹp nào của nhân vật trong đoạn trích?

Câu 5: (1,0 điểm) Đoạn trích gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm của con cái dành cho cha mẹ?

 

 

Qua 3 đề đọc hiểu, lưu ý một số điều sau.

Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản”.

Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, 4 năm gần đây, thi vào THPT đã đưa vào đề thi câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi. Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm đánh giá năng lực người học. Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, học sinh còn phải huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới để trả lời câu hỏi.

Đọc hiểu văn học thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:

1- Xuất xứ văn bản

          Ngoài câu hỏi thông tin về tác giả, tác phẩm còn câu hỏi về hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, hoàn cảnh đó có ý nghĩa gì trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng tác phẩm.

- Hệ thống các văn bản theo lớp, các giai đoạn.

- Nhớ chính xác tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.

Lớp 8

- Truyện kí bao gồm các văn bản văn học Việt Nam trước năm 1945 và các văn bản văn học nước ngoài.

- Thơ mới

- Thơ văn Cách mạng

- Nghị luận trung đại và hiện đại

- Ngài ra còn có một số văn bản nhật dụng

Lớp 9

a) Văn học Việt Nam

- Văn học trung đại

- Văn học hiện đại

+ Thơ: Gồm những sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và sau năm 1975

+ Truyện: Thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thời kì miền Bắc xây dựng CNXH, thời kì chống Mỹ và sau năm 1975

- Văn bản nghị luận

b) Văn học nước ngoài

2. Các thể loại văn học

a) Thể loại thơ

- Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát…

- Các thể thơ Đường luật:  ngũ ngôn, thất ngôn

- Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, tự do, thơ – văn xuôi,… 

b) Tự sự: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí

c) Nghị luận trung đại, nghị luận hiện đại

* Chú ý: Ngoài ra còn có một số văn bản nhật dụng. Riêng văn bản nhật dụng không phải một thể loại văn học. Tuy nhiên khi học văn bản nhật dụng cần nhận diện được các phương thức biểu đạt có sử dụng của các thể loại nêu trên.

3. Các phương thức biểu đạt

Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên  cung cấp cho học sinh kiến thức lý thuyết về 6 phương thức thường xuất hiện trong văn bản. Chú ý đến các đặc điểm để nhận diện các phương thức

Lưu ý cho học sinh: trong một văn bản thường xuất hiện nhiều phương thức như tự sự và miêu tả, thuyết minh và biểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật.

4.  Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh, chi tiết chính, nội dung cụ thể, nội dung biểu đạt trong đoạn trích.

Phần này trong đề thi thường hỏi: hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, một câu nào đó có sẵn trong văn bản. Sau khi chỉ ra được có thể lý giải phân tích vì sao lại như vậy. Vì thế học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản. Phần này phụ thuộc nhiều vào khả năng cảm thụ thơ văn của học sinh.

5. Các biện pháp tu từ

- Nắm chắc và phân biệt được các biện pháp tu từ.

- Nhớ hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của từng biện pháp.

6. Liên kết câu, liên kết đoạn văn

- Phân biệt giữa liên kết nội dung và liên kết hình thức.

- Nhớ được các phép liên kết. (Chủ yêu hỏi về các phép liên kết)

- Phương tiện liên kết.

7. Các kiểu câu

a) Các kiểu câu phân loại theo cấu tạo

b) Các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

- Nắm được đặc điểm của mỗi kiểu câu.

- Nhận diện được kiểu câu theo yêu cầu của đề.

8. Thành phần câu

* Thành phần chính

* Thành phần phụ

* Thành phần biệt lập

- Thành phần tình thái

- Thành phần cảm thán

- Thành phần gọi đáp

- Thành phần phụ chú

- Đặc điểm của mỗi thành phần câu.

- Vai trò của mỗi thành phần.

- Nhận diện, tạo câu.

9. Từ - Từ loại

* Giải nghĩa từ

* Nghĩa gốc và nghĩa chuyển

* Từ loại

- DT, ĐT...

- Từ láy

- Từ tượng hình, từ tượng thanh

10. Dựa vào văn bản cho sẵn viết về một nộidung nào đó: khoảng 3-5câu/dòng

Học sinh dựa vào văn bản đã cho, bằng sự trải nghiệm của bản thân để viết theo chủ đề. Cần lưu ý viết đủ số câu, dòng quy định, và trả lời trực tiếp vào câu hỏi.

Các câu hỏi Đọc hiểu soạn ở ba mức độ : Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp.

+ Nhận biết: Câu hỏi thường ra  về xác định đề tài, thể loại, phương thức biểu đạt, chỉ ra các biện pháp tu từ, các chi tiết chính ….trong văn bản; Nhận biết các thông tin được thể hiện, phản ánh trực tiếp trong văn bản;  Diễn đạt hoặc mô tả lại nội dung của văn bản bằng ngôn ngữ của mình.

+ Thông hiểu: Nêu chủ đề hoặc nội dung chính của văn bản; Sắp xếp, phân loại được thông tin trong văn bản. Kết nối, đối chiếu, lý giải, mối quan hệ của các thông tin để lý giải nội dung của văn bản. Cắt nghĩa, lý giải nội dung, hiệu quả các biện pháp tu từ, các chi tiết, các sự kiện thông tin …có trong văn bản. Dựa vào nội dung văn bản để lý giải hoặc giải quyết các tình huống, các vấn đề trong văn bản.

+ Vận dụng: Viết một vài câu văn trình bày quan điểm riêng của cá nhân về văn bản theo yêu cầu của đề bài, vận dụng ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản để giải quyết những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, thể hiện được những trải nghiệm của bản thân.

Vẫn biết rằng trong một đề thi có nhiều câu, để có kết quả cao còn phụ thuộc  nhiều yếu tố, phụ thuộc vào chất lượng các câu khác. Tuy nhiên câu hỏi này chiếm 4/10 điểm trong đề vì thế nó không chỉ là phần gỡ điểm mà nó còn là phần quyết định nâng điểm số của toàn bài. Bởi vậy các em hãy chú ý ôn kĩ những nội dug cô đã tổng hợp và rèn kĩ năng, phương pháp làm bài.

PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về hậu quả của việc không nghiêm khắc với bản thân.

1. Xác định yêu cầu của đề

- Kiểu bài: nghị luận về tư tưởng đạo lí.

 (Dạng nghị luận một khía cạnh của vấn đề - Hậu quả. Các em đã được luyện kiểu bài nghị luận xã hội ở các khía cạnh: ý nghĩa,giải pháp. Hôm nay cô đề cập tới phương diện hậu quả của một vấn đề.)

- Vấn đề nghị luận: sống  không nghiêm khắc với bản thân.

- Hình thức: đoạn văn.

  Dung lượng: khoảng 200 chữ

2. Dàn ý

(Mô hình: Tổng – Phân – Hợp)

Với đề bài cụ thể:

* Yêu cầu chung:

- Biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm văn nghị luận xã hội để tạo lập đoạn văn.

- Đoạn văn có cấu trúc chặt chẽ: Mở đoạn; Thân đoạn; Kết đoạn. Diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: 0,25 điểm

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm

- Triển khai vấn đề nghị luận: 1,0 điểm

- Chính tả, dùng từ đặt câu: 0,25 điểm

- Sáng tạo: 0,25 điểm

1. Nội dung

- Dẫn dắt và nêu đúng vấn đề nghị luận: Hậu quả của việc không nghiêm khắc với bản thân.

- Giải thích: Nghiêm khắc với bản thân là có yêu cầu rất chặt chẽ, không dễ dàng tha thứ hoặc bỏ qua sai sót của bản thân. Không nghiêm khắc với bản thân là dễ dãi, sẵn sàng bỏ qua sai sót của mình.

- Hậu quả:

+ Nếu ta không nghiêm khắc, ta sẽ không nhận ra được những ưu điểm và nhược điểm của chính mình để sửa chữa và hoàn thiện bản thân.

+ Khi ấy ta dần mất đi những phẩm chất tốt đẹp; không làm chủ được mình, mất niềm tin ở bản thân, cuộc sống. Không học được cách chịu trách nhiệm về bản thân, sống vô trách nhiệm, thiếu tình thương, thiếu bao dung. Dần hình thành thói quen ỷ lại, lười nhác, không chịu nỗ lực vươn lên, nước đến hân mới nhảy, thất hứa - tự đánh mất chính mình.

+ Khi không làm chủ được mình, con người luôn sống trong tình trạng mất thăng bằng, hoang mang, mỏi mệt, con người sống trong bế tắc và khổ đau. Dễ sa vào những cám dỗ của cuộc sống.

+ Nếu như chúng ta không thể kiểm soát được chính bản thân mình, thì chắc chắn những ước mơ, mong muốn mà các bạn đã đề ra trước đó không bao giờ được thực hiện - sẽ không thể có được thành công, niềm vui trong cuộc sống. Không giúp ích cho gia đình, xã hội mà còn ảnh hưởng tới cộng đồng, xã hội.

(như vậy sự tác động không chỉ với bản thân mỗi người mà con ảnh hưởng tới tập thể, cộng đồng, đất nước.)

+ Nếu nghiêm khắc với bản thân, làm chủ được chính mình, ta sẽ có kiến thức, kĩ năng để hoàn thiện bản thân, vươn tới thành công. Mỗi người đều tự đặt ra tiêu chuẩn cao cho mình thì gia đình, xã hội sẽ tự ổn định.

- Hãy xây dựng một  lối sống tích cực, nghiêm khắc với bản thân.

- Là một học sinh mỗi chúng ta cần làm chủ bản thân, làm những điều ý nghĩa, tốt đẹp giúp ích cho đời; để chinh phục được những ước mơ, hoài bão. 

Ngoài những lậpluận trên,các em cần đưa dẫn chứng vào đoạn văn. Có 2 cách đưa dẫn chứng cô đã giới thiệu ở tiết trước.

2. Hình thức

- Đảm bảo hình thức của đoạn văn nghị luận; trình bày rõ ràng, sạch đẹp.

- Dung lượng phù hợp.

- Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; lập luận chặt chẽ.

- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

3. Sáng tạo

- Thể hiện quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Có sáng tạo trong cách diễn đạt.

Giờ trước cô đã hướng dẫn các em cách viết mở đoạn, cách triển khai vấn đề, cách viết kết đoạn. Ở tiết học này cô không nhắc lại nữa mà cô sẽ giúp các em thông qua những đoạn văn cụ thể, tìm hiểu cách viết, phát hiệnlỗi và cách sử lỗi để thông qua đó các em tự rút ra cho mình phương pháp và nắm chắc hơn cách làm câu hỏi nghị luận xã hội.

- Phát hiện và sửa lỗi trong một số đoạn văn.

          + Không giải thích vấn đề cần nghị luận, giải thích chưa chính xác.

          + Nêu biểu hiện của người không nghiêm khắc với bản thân.

          + Dẫn chứng không phù hợp.

          + Không đi đúng trọng tâm vấn đề, người viết chủ yếu bàn về: ý nghĩa của việc nghiêm khắc với bản thân.

          + Dẫn chứng kể lể dài dòng.

Từ 4 đoạn văn trên, cô chốt lại một số vấn đề khi viết đoạn văn nghị luận.

Các lỗi thường gặp

* Về nội dung:

+ Không xác định được các dạng đề trong nghị luận xã hội.

+ Không xác định đúng trọng tâm vấn đề nghị luận.

+ Trình bày lan man, không làm nổi bật vấn đề nghị luận.

+ Dẫn chứng chưa tiêu biểu, có khi đưa dẫn chứng một cách lan man, dài dòng.

Ngoài ra trong quá trình ôn luyện và chấm bài của HS cô nhận thấy:

+ Chưa biết cách viết phần mở và kết đoạn.

+ Bài viết lên gân, thiếu sự truyền cảm và thiên về rao giảng đạo lý.

* Về trình bày:

+ Bố cục không rõ ràng.

+ Lặp từ, lặp ý.

+ Viết không đúng dung lượng theo yêu cầu.

* Cách khắc phục

+ Phân biệt và nhận diện các dạng nghị luận.....

+ Đọc kỹ ngữ liệu, câu hỏi và phân tích yêu cầu của đề trước khi làm.

+ Trình bày ngắn gọn, có trọng tâm, tập trung vào làm rõ vấn đề.

+ Dẫn chứng sử dụng có chọn lọc, nên sử dụng khoảng một đến hai dẫn chứng trong bài viết.

+ Trình bày trong dung lượng cho phép của đề, không quá ngắn hay quá dài.

+ Kiểm tra lại bài để tránh lỗi dùng từ và diễn đạt.

- Đoạn viết nghị luận xã hội nên dành thời gian nhiều nhất là 20-25 phút.  Tránh lan man dài dòng ở câu hỏi này, làm ảnh hưởng tới quỹ thời gian cho câu nghị luận văn học.

- Khi viết đoạn văn, cần chú ý trình bày đúng quy tắc một đoạn văn là không ngắt xuống dòng. Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 - 25 dòng.

- Nên lựa chọn trình bày nội dung theo cách tổng phân hợp để tạo ấn tượng về một văn bản hoàn chỉnh, độc lập.

- Hướng dẫn tự học ở nhà.

 

Đề bài: Hãy nêu suy nghĩ của em về hình ảnh người cha qua đoạn trích sau.

          - Nhà thơ Tố Hữu có cái nhìn giữa cuộc đời và văn học “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học”. Văn học luôn phản ánh hiện thực. Các tác phẩm văn chương chân chính đều có điểm nhìn hướng tới cuộc đời. Truyện ngắn “ Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một trong những tác phẩm như vậy. Truyện ngắn không chỉ cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh mà còn làm nổi bật lên tình phụ tử thiêng liêng, đằm thắm. Điều này hiện lên rõ nhất qua nhân vật ông Sáu trong đoạn trích khi ông trở lại chiến trường.

          - Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ. Với sự am hiểu và gắn bó của mình, hầu hết các tác phẩm của ông trong thời chiến cũng như thời bình đều viết về cuộc sống và con người Nam Bộ. Nguyễn Quang Sáng viết với nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim; tất cả đều mang nét riêng về phong cách nghệ thuật của ông. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” viết năm 1966, được in trong tập truyện cùng tên. Truyện ngắn ra đời trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng ác liệt. Không giống các tác phẩm khác thời kì này khi tập trung vào khí thế, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu mà “Chiếc lược ngà” làm sáng lên tình phụ tử thiêng liêng, sâu sắc. Đặc biệt đoạn trích trở lại chiến trường càng tô đậm thêm vẻ đẹp nhân vật ông Sáu.

         - Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, trở về thăm gia đình khi đứa con gái đầu lòng lên tám tuổi. Tưởng rằng sẽ được ở bên con trong những ngày nghỉ phép nhưng vết thẹo trên mặt ông khiến bé Thu không nhận ba của mình. Thu đối xử với ba mình như người xa lạ, đến khi hiểu được tình cha con mãnh liệt cũng là lúc ông Sáu lên đường trở lại chiến trường. Qua lời dặn của con “ Ba về! Ba mua cho con cây lược nghe ba!” đã thôi thúc ông Sáu làm cây lược cho con. Đoạn trích miêu tả ông Sáu làm cây lược nhưng chưa kịp đưa cho con, ông đã gác lại cuộc đời mình nơi chiến trường bom đạn. Đoạn trích là nốt cao nhất trong bản hòa ca về tình phụ tử thiêng liêng mà đượm buồn.

          - Tình cảm ông Sáu dành cho con trước hết thể hiện qua việc ông tỉ mỉ làm chiếc lược ngà tặng con. Đó là buổi chiều sau ngày mưa rừng, “ông hớt hải chạy về trên tay cầm khúc ngà” với vẻ mặt “ hớn hở như trẻ con nhận quà”. Trong hình hài như một đứa trẻ ấy lại là tình yêu con lớn lao vô cùng, người chiến sĩ như hồi sinh, như trẻ lại. Cây lược không phải do ông Sáu mua vội để nhanh trở về với chiến trường, cũng không phải làm từ những chất liệu được chọn cẩn thận mà chỉ là khúc ngà voi ông nhặt được ở chiến trường. Hiểu được hoàn cảnh ác liệt cũng như sự thiếu thốn về vật chất nơi núi rừng, khúc ngà voi càng khắc sâu tình yêu ông Sáu dành cho con. Không chỉ vậy, việc ông Sáu tỉ mỉ cưa khúc ngà làm thành chiếc lược như mang sứ mệnh thiêng liêng của tình phụ tử. Ngoài những giây phút là một người chiến sĩ, ông dành toàn bộ thời gian và tâm tình của một người cha để làm cho con cây lược “ cưa từng răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cổ công như người thợ bạc”. Làm chiếc lược ngà đòi hỏi ở ông sự công phu “ một ngày, anh cưa được một vài răng” nhưng không vì thế mà ông bỏ cuộc. Ông làm bằng cả trái tim của mình, có lẽ bởi đây là món quà đầu tiên ông dành cho con hoặc bởi làm cho con cây lược để vơi đi phần nào nỗi nhớ con. Cuối cùng cây lược được hoàn thành “ cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi”, “cây lược chỉ có một hàng răng thưa”, trên sống lưng có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Dòng chữ nhỏ mà chứa bao tình yêu. Một lần nữa hoàn cảnh ác liệt của chiến trường bom đạn lại khắc sâu vào tâm trí người đọc. Là sự mong manh giữa sự sống và cái chết, người chiến sĩ có thể bị gục ngã bất cứ lúc nào. Vậy mà ông Sáu vẫn tỉ mẩn làm cây lược cho con mới thấy hết được tình cảm của ông. Tình yêu con khiến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân, nghệ nhân ấy chỉ sáng tạo một tác phẩm duy nhất trong đời. Tác phẩm nghệ thuật là sự kết tinh của tình phụ tử thiêng liêng, đằm thắm. Cây lược còn là món quà tinh thần giúp ông vơi bớt nỗi day dứt vì đánh con. Người cha thương con, nhớ con, dành trọn tình yêu của mình vào món quà, món quà càng trở nên giá trị hơn.

          - Khi làm xong cây lược, tình yêu ông Sáu dành cho con mình càng mãnh liệt, khôn nguôi. Mỗi lần nhớ con, ông đều lấy “cây lược ra ngắm nghía rồi chải lên mái tóc cho thêm bóng, thêm mượt”. Cây lược như người bạn sẻ chia để vơi bớt nỗi buồn nơi chiến khu, nỗi nhớ con da diết. Không đơn thuần chỉ là cây lược chải lên mái tóc con, cây lược còn là biểu tượng đẹp của tình phụ tử, dệt lên bao tình yêu, sự nhớ nhung mà không ngôn từ nào có thể lột tả hết được. Người cha ấy mong mỏi hi vọng ngày được đoàn tụ với gia đình, được trở về bên con và trao cho con món quà. Giây phút nhìn thấy con gái đón nhận món quà trong niềm vui sướng, hân hoan, được tự tay chải lên mái tóc con khiến ông càng thêm khát khao được gặp con. Tình yêu ông dành cho con cháy bỏng, mãnh liệt như sự chảy trôi tự nhiên của dòng nước: nghìn con sông đều đổ ra biển lớn, cũng giống như dòng máu chứa đựng bao yêu thương đều trở về với trái tim ông. Xuất phát từ những khao khát giản dị làm nổi bật lên tượng đài về người lính với vẻ đẹp của người cha nhớ thương con vô bờ.

         - Tưởng sẽ được bên con, bao hi vọng cuối cùng cũng được bù đắp, ấy vậy mà ông vĩnh viễn không thể thực hiện được. Trong một trận càn lớn của quân Mĩ -ngụy, ông Sáu bị thương. “ Biết không còn đủ sức trăng trối điều gì”, ông dần mất đi sức lực “đưa tay vào túi, móc cây lược” và nhìn đồng đội hồi lâu. Ánh mắt ấy ẩn chứa bao nỗi xót xa. Đó là nỗi đau của người cha khi biết rằng sẽ không còn cơ hội được trao món quà cho con. Đó là sự khẩn cầu, là sự ủy thác với người đồng đội hãy thay ông trao tận tay chiếc lược cho con. Chỉ khi nhận được lời hứa từ đồng đội, ông Sáu mới yên lòng nhắm mắt đi xuôi. Đây được coi là bản di chúc không lời, nó thiêng liêng hơn cả bản di chúc thông thường bởi diễn ra trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt và bằng trái tim người lính luôn nghĩ về con. Ngay cả khi sự sống đang từ từ rời bỏ khỏi thể xác thì tình yêu con luôn thường trực trong trái tim người cha. Đúng như bác Ba nói “chỉ có tình cha con là không thể chết”. Bom đạn của kẻ thù có thể lấy đi tính mạng người lính nhưng không thể lấy đi tình yêu cha dành cho con. Chiếc lược trở thành vật kí thác thiêng liêng của tình phụ tử, không ai có thể hủy diệt được. Chiếc lược còn gửi gắm niềm tin chiến thắng, khát vọng về ngày mai hòa bình của dân tộc, và là cầu nối giữa thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, tiếp bước cha anh chống lại kẻ thù. Trong thời kì kháng chiến ác liệt ấy, không ai có thể hiểu nhau bằng chính đồng đội của mình. Vậy nên sau này khi gặp lại bé Thu, trao cây lược cho cô, bác Ba lại cảm nhận được thứ tình cảm nảy nở giống như tình cha con. Tình yêu ông Sáu dành cho con mãnh liệt, có sức lan tỏa, càng khắc sâu vào lòng bạn đọc.

          - Như vậy, qua đoạn trích, Nguyễn Quang Sáng ngợi ca về tình phụ tử thiêng liêng, cao đẹp. Bằng vật kí thác chiếc lược ngà, tình yêu con càng mãnh liệt không thể nào nguôi ngoai, luôn cháy bỏng ngọt ngào ngay cả khi giây phút được sống chỉ còn trong tích tắc. Đồng thời phê phán, tố cáo chiến tranh đã cướp đi khát khao bình dị về hạnh phúc gia đình, về ngày được đoàn tụ. Thật không sai khi nói, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là bài ca về tình phụ tử, bài ca đẹp mà đượm buồn.

          - Để khắc họa thành công nhân vật ông Sáu, Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng ngôn từ giản dị, đậm chất Nam Bộ. Bên cạnh đó ông khéo léo đặt nhân vật vào tình huống truyện bi kịch, éo le cùng với việc miêu tả tâm lý nhân vật để từ đó làm nổi bật con người ông Sáu. Đó là tình yêu ông Sáu dành cho con. Chi tiết nghệ thuật chiếc lược ngà mang giá trị tư tưởng đồng thời là bút tô màu hiện thực để tình phụ tử càng trở nên rõ nét hơn.

          - Nhà văn người Nga Seđerin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” có sức hút bất tử với thời gian. Nguyễn Quang Sáng đã đưa truyện ngắn đến gần hơn với bạn đọc, mang giá trị nhân văn sâu sắc. “Chiếc lược ngà” sẽ mãi là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng, đáng quý.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết